• Ảnh 3
  • Ảnh 22
  • Ảnh 9
  • Ảnh 21
  • Tập huấn kỹ năng viết đề xuất dự án, giám sát, đánh giá
  • Hội nghị chi trả DVMTR khu vực Tây nguyên năm 2013
  • Ảnh 6
  • Chi trả tiền DVMTR tại Điện Biên
  • Ảnh 19
  • Hội thảo chính sách chi trả DVMTR tại Đắk Nông
  • Ảnh 14
  • Ảnh 7
  • Tập huấn quản lý tài chính, kế toán Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng
  • Kiểm tra diện tích rừng chi trả DVMTR tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, Đắk Nông
  • Bức tranh giải nhất cuộc thi vẽ tranh ở Yên Bái
  • Kiểm tra lưu vực chi trả DVMTR tại Hòa Bình
  • Chi trả tiền DVMTR tại Điện Biên
  • Ảnh 15
  • Ảnh 8
  • Học viên nhận chứng chỉ khóa tập huấn kỹ năng viết đề xuất dự án, giám sát, đánh giá
  • Gắn biển thông tin về rừng được bảo vệ bởi chính sách chi trả DVMTR
  • Khóa tập huấn kỹ năng truyền thông
  • Ảnh 10
  • Ảnh 11
  • Ảnh 18
  • Xe tuyên truyền lưu động tại Đắk Nông
  • Ảnh 5
  • Xe máy dùng để đi tuần tra rừng
  • Ảnh 16
  • Hội nghị triển khai kế hoạch thực thi chính sách chi trả DVMTR năm 2012
  • Ảnh 23
  • Cắm biển tuyên truyền chi trả DVMTR
  • Ảnh 12
  • Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ với Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
  • Ảnh 1
  • Chi trả tiền DVMTR tại huyện Mường Tè, Lai Châu
  • Chi trả tiền DVMTR tại Gia Lai
  • Ảnh 11
  • Tuyên truyền viên tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR cho dân bản
  • Lễ ký kết hợp đồng ủy thác DVMTR với Công ty thủy điện Sơn La
  • Ảnh 2
  • Chi trả tiền DVMTR tại Điện Biên
  • Biển tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR tại Lâm Đồng
  • Ảnh 13
  • Ảnh 20
  • Hương ước của thôn, bản về công tác bảo vệ, tuần tra rừng và giấy khen thành tích cá nhân, tập thể
  • Bức tranh giải nhất Cuộc thi vẽ tranh ở Lào Cai
  • Hội thảo tham vấn ý kiến về Đề án thành lập Quỹ REDD+ Việt Nam
  • Ảnh 17
  • Phóng sự

Đối tác

Tin Trung Ương

Chi trả dịch vụ môi trường rừng - Hướng đi đúng trong việc tạo nguồn lực cho phát triển rừng bền vững

24/03/2017
“Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là hướng đi đúng trong việc tạo nguồn lực cho phát triển rừng bền vững”- đây là lời khẳng định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Xuân Cường tại Hội nghị “Phát triển dịch vụ môi trường rừng bền vững” ngày 24/3/2017 tại Hà Nội do Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và Bộ NN&PTNT đồng chủ trì.



Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: VNFF



Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: VNFF

Trong bối cảnh nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng còn chưa tương xứng với tiềm năng, vai trò của rừng mang lại, ngân sách nhà nước đầu tư cho ngành lâm nghiệp còn hạn chế, yêu cầu xã hội hóa trong việc huy động nguồn lực cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng là hết sức cấp thiết. Ngày 14/01/2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng nhằm mục đích thu hút, tiếp nhận các nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong nguồn tài chính quan trọng của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Tiếp theo đó, ngày 10/04/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/QĐ-TTg thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Sơn La và tỉnh Lâm Đồng. Sau hai năm thí điểm được đánh giá thành công, ngày 24/09/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.



Quang cảnh Hội nghị - Ảnh: VNFF

Sau hơn 8 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (2008-2016) gắn với 6 năm triển khai thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các Chính sách này đã từng bước lan toả, tạo ra nguồn tài chính mới, ổn định, bền vững cho bảo vệ phát triển rừng, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng miền núi.

Đến nay, toàn quốc đã có 42 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ trung ương đến địa phương, ký kết được 471 hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng, huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2011-2016 đạt hơn 6.510 tỷ đồng (trong đó thu từ cơ sở sản xuất thủy điện chiếm chủ yếu với hơn 97%), bình quân trên 1.200 tỷ đồng/năm tương đương với 22% tổng đầu tư bình quân năm của toàn xã hội cho ngành lâm nghiệp. Đây là nguồn tài chính ổn định, bền vững có khả năng sẽ được tiếp tục tăng cao do khai các các dịch vụ môi trường rừng qua đó sẽ góp phần làm giảm đầu tư ngân sách nhà nước đầu tư cho ngành lâm nghiệp.


Số tiền chi trả cho các chủ rừng là 5.024 tỷ đồng cho hơn 500 ngàn hộ gia đình, cá nhân, tổ chức quản lý bảo vệ 5,87 triệu ha rừng chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho người dân miền núi bảo vệ rừng có điều kiện nâng cao đời sống. Các địa phương đã được phép sử dụng gần 385 tỷ để hỗ trợ các chủ rừng xây dựng các công trình lâm sinh phục vụ phát triển rừng, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.


Từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng công tác quản lý bảo vệ rừng có nhiều kết quả tích cực, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng và phát triển rừng, diện tích rừng bị thiệt hại trong giai đoạn 2011-2015 giảm lần lượt là 32,9% và 58,2% so với giai đoạn 2006-2010.


Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thực hiện chính sách còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như: (i) Thu tiền dịch vụ môi trường rừng còn thấp so với tiềm năng hiện có do hiện mới có 3 loại dịch vụ môi trường rừng đã thực hiện với các đối tượng là thủy điện, nước sạch và du lịch; (ii) Một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (nhà máy thủy điện, nước sạch và cơ sở kinh doanh du lịch) chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trả tiền dịch vụ môi trường rừng hoặc trả chậm dẫn đến nợ đọng nhiều; (iii) Địa vị pháp lý của Quỹ chưa rõ ràng dẫn đến các địa phương hiểu khác nhau, vận dụng khác nhau, thiếu thống nhất, việc tự chủ tài chính gặp khó khăn do đó các Quỹ tỉnh gặp nhiều khó khăn trong tổ chức hoạt động.


Tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường và Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cùng nhiều đại biểu khác đều đánh giá cao những kết quả đạt được sau quá trình 5 năm thực hiện chính sách, đây là những kết quả đáng ghi nhận, khẳng định hướng đi đúng trong trong việc tạo nguồn lực bổ sung cho ngành Lâm nghiệp thông qua sáng kiến tạo cơ chế tài chính mới. Tuy nhiên, tiềm năng từ dịch vụ môi trường rừng còn rất lớn. Trong thời gian tới, cần tính toán cụ thể để khai thác tối đa, không chỉ từ thủy điện, nước sạch, du lịch mà các loại dịch vụ môi trường rừng khác từ cơ sở công nghiệp có sử dụng nước mặt, cơ sở thủy sản có sử dụng nước từ rừng, các cơ sở có phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và huy động các nguồn lực trong nước, quốc tế nhằm bảo vệ, phát triển rừng tốt nhất, nâng cao giá trị kinh tế từ rừng.


Hội nghị lần này là cơ hội tốt để đề xuất các giải pháp hữu hiệu, thúc đẩy thực thi chính sách, đặc biệt là thúc đẩy việc nghiên cứu, đề xuất khai thác hết các tiềm năng của dịch vụ môi trường rừng đề xuất mức chi trả dịch vụ môi trường rừng tiệm cận với giá trị thực; đề xuất với Quốc hội về sáng kiến tạo cơ chế tài chính mới để Luật hóa trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) làm căn cứ pháp lý tổ chức thực hiện.

Với ý nghĩa đó, sau Hội nghị, dựa trên các nội dung, báo cáo trình bày, các ý kiến thảo luận, trao đổi, góp ý của các nhà khoa học, các đại biểu tại Hội nghị, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ chỉ đạo các Cục, Vụ thuộc Bộ nghiên cứu đề xuất chính sách phù hợp, góp phần nâng cao giá trị của ngành Lâm nghiệp đối với đời sống xã hội. Việc làm này sẽ góp phần tạo ra sự chuyển biến tốt trong tổ chức vận hành hệ thống các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ trung ương tới các địa phương, gắn kết với việc thực thi có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020.



Ảnh: VNFF

Trong khuôn khổ Hội nghị, nhiều cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc đã được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và bằng khen của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.
Nguồn: BĐH VNFF